Thứ Năm, Tháng Năm 24, 2018
Trang chủ Văn hóa Danh nhân Nhà văn Hoàng Ly

Nhà văn Hoàng Ly

85

Chắc hẳn những ai yêu thích kiếm hiệp Việt nam đều không thể không biết đến nhà văn Hoàng Ly (1915 – 1981) cũng như những tiểu thuyết kiếm hiệp “đường rừng” đặc biệt của ông, nhưng không phải ai cũng biết nhiều thông tin về ông. Do vô tình nên mình có đọc được một bài viết về tác giả, trong đó có rất nhiều thông tin bổ ích, nay mình post lên đây để mọi người cùng tham khảo và có cái nhìn khái quát hơn về tác giả huyền thoại này.

NHÂN KỶ NIỆM 30 NĂM NGÀY MẤT CỦA NHÀ VĂN HOÀNG LY

8/11 (1981-2011)

TỪ GÓC NHÌN CỦA MỘT NGƯỜI CONHoàng Linh

Nhà văn Hoàng Ly, cha tôi, tên thật ĐỖ HỒNG NGHI, sinh năm 1915 tại Quần Anh, huyệnHải Hậu, tỉnh nam Định. Ông là con cụ Đỗ Văn Phấn (thường gọi cụ Cả Phấn) và cụ bà Đỗ Thị Ngọc. Gia đình dòng dõi cụ Nghè Quần Anh – tức tiến sĩ Đỗ Tông Phát,người đã có công mở mang vùng duyên hải tỉnh Nam định vào Thế kỷ 19, khi giữ chức Dinh Điền Chánh sứ dưới triều nhà Nguyễn.
Cụ Nghe Quần Anh là vị quan nổi tiếng liêm khiết và hiếu kính với cha mẹ, thầy dạy; được nhân dân địa phương lập miếu thờ tưởng nhớ công lao khai khẩn, biến vùng đồng chua nước mặn thành đồng ruộng phì nhiêu, ngoài ra cụ còn là tấm gương sáng về sự hiếu học, về cách đối nhân xử thế.
Về cụ Đỗ Tông Phát, mấy năm gần đây nhà biên khảo Đoàn Ngọc Phan có đăng một số bài trên các báo (chẳng hạn bài “Thầy trò ông Nghè Bái Dương” đăng trên báo Thanh Niên xuân Nhâm Ngọ 2002…).
Dòng tộc họ Đỗ sau đó còn có nhiều người nối đời đèn sách, nổi tiếng về văn chương,như các cụ Đỗ Bỉnh Thành, Cả Tiềm…
Ngay từ niên thiếu cha tôi đã sớm bộc lộ thiên hướng về văn thơ, kịch nghệ và bắt đầu sang tác rất sớm. Song phải đến đầu thập niên 40 của thế kỷ trước, ông mới chính thức xuất hiện trên văn đàn miền Bắc và các bút danh HOÀNG LY, TRƯƠNG LINHTỬ nhanh chóng tạo được sự chú ý.

Một số sáng tác của cha tôi trong thời kỳ này có thể kể “Chờ thời” (kịch thơ trào phúng). “Hờn Cai Hạ” (kịch thơ lịch sử), “Nhập đô thành” (kịch thơ lịch sử), … Sau đó ông gia nhập báo giới Hà Nội và đây chính là môi trường thích hợp cho công việc sáng tác qua hình thức viết tiểu thuyết đăng thường kỳ trên báo (feuilleton).
Những truyện như : Người điên áo thụng, Kỹ nữ sông Kỳ Cùng, Tiếng địch trên sông, Hận loa thành, Khi người tình phụ bạc, Tráng sĩ không tên, Nữ chúa thác Ptầy Lùng… do được độc giả ái mộ nên sau đó phần lớn được in thành sách.
Ngoài ra cha tôi còn biên soạn một số tác phẩm như :
– Nghị luận về thơ Hồ Xuân Hương
– Nghiên cứu và phê bình Tỳ Bà Hành
– Kỹ thuật sáng tác thơ…
Sau này trong tác phẩm “Những cây cười tiền chiến”, nhà văn Vũ Bằng, một trong những bạn văn thân thiết của cha tôi,viết về ông như sau :
“… tiêu biểu cho những nhà văn thơ trào phúng trong thời kỳ này là Trương Linh tử, tên thật là Đỗ Hồng Nghi, tác giả hai bài thơ trên kia. Còn tên nữa làv Thánh Sống, Hoàng Ly, tác giả nhiều tiểu thuyết mạo hiểm, ái tình, phiêu lưu, anh là người đầu tiên đã mở một mục trào phúng mới trên báo Liên Hiệp, mục Vấn Kế ..”

Và cũng theo bác Vũ Bằng, ngoài văn thơ cha tôi còn sáng tác cả nhạc, cụ thể là bài “Con đò đưa xác”, cảm xúc từ sự kiện bi thảm – nạn đói năm Ất Dậu (1945) tại miền Bắc (trang 142 – 143 NCCTC).
Nhà văn Hoài Anh, người viết lời giới thiệu bộ truyện “Một thời ngang dọc” (NXB Tiền Giang, in lại 1989), kể với tôi rằng ông từng là độc giả thường xuyên của cha tôi qua các feuilleton đăng báo Giang Sơn thời đó.
Thời kỳ này, ngoài báo giới cha tôi còn hoạt động cả ở lĩnh vực sân khẩu với vai trò biên kịch và “thầy tuồng” (đạo diễn). Tôi nghe kể ông làm thầy tuồng trong đoàn Kim Phụng tại Hà Nội.
Từ giữa thập niên 50, sau khi vào miền Nam cha tôi không còn viết kịch và làm thầy tuồng nữa, tuy có vài vở kịch thơ ông soạn trước kia thỉnh thoảng vẫn được dàn dựng công diễn tại Sài Gòn và kịch bản được in lại, như vở “Nhập đô thành”, vở kịch ca ngợi Đức Quang Trung Hoàng Đế đánh đuổi quân Thanh ra khỏi bờ cõi nước ta.
Miền Nam trong thời kỳ 1954- 1975 có khá nhiều báo, cha tôi cộng tác – viết feuilleton – cho mấy tờ. Bút pháp của ông trong giai đoạn này có phần thay đổi nếu so sánh với hồi ở Hà Nội, nhìn chung (theo chủ quan của tôi) là “mạnh và hấp dẫn hơn”. Một Thời Ngang Dọc, Nữ Tướng Biên Thùy, Người Đẹp Liễu Thôn… là những tiểu thuyết lần lượt đăng trên các báo, thu hút nhiều người đọc bởi các hình tượng nhân vật “anh hùng lạc thảo”, “nữ chúa rừng xanh” vung gươm múa sung trừ gian diệt bạo – đặc biệt là trừ bọn Việt gian làm tay sai cho ngoại bang.


Có lẽ không quá đáng khi nóirằng, kể từ truyện “Một thời ngang dọc” ông bắt đầu hình thành một loại “tân phái võ hiệp Việt Nam”, như một số người nhận xét. Trong đó ngoài “chất liệu truyền thống” của thể loại truyện võ hiệp quen thuộc là võ thuật, ông còn đưa vào cả “những thành tựu kỹ thuật cơ giới” như súng ống đủ loại, chiến xa, chiến hạm… Nhân vật không chỉ giỏi võ mà còn bắn súng ngắn “tắt đom đóm trong đêm tối”, hay rót đại pháo, moóc-chê “năm phát như một không cần làm phép tính lôi thôi”. Và tất nhiên để có thể trụ vững trước làn sóng truyện võ hiệp dịch thuật mà vào thời điểm đó đang ngày càng mãnh liệt, điều làm nên sức hấp dẫn trong tiểu thuyết của ông còn hơnthế nữa, bao gồm các yếu tố :
1/- Tính nhân văn và sự hiểu biết sâu sắc về con người cùng những nét văn hóa đặc thù của từng địa phương mà ông vận dụng thể nhập và đặc tả trong truyện.

2/- Xây dựng cốt truyện trên nền tảng long yêu nước và niềm tự hào dân tộc, trong đó nội dung tình tiết luôn luôn đề cao đạo lý làm người : hiếu đễ, thủy chung, tiết liệt, bao dung…
Ngoài ra còn rất nhiều thành tố kỹ thuật mà bất kỳ nhà văn nào muốn viết feuilleton thành công cũng phải hội đủ.
Riêng cha tôi vào thời điểm gần cuối thập niên 60 bướcsang 70, lúc “cao trào” ông đã viết cùng lúc khoảng 5 đến 7 feuilleton trên các nhật báo, tuần báo tại Sài Gòn. Đó là những truyện Giặc Cái, Quỷ Cái, Gái bán trời, Gái giặc biển, Giặc tình, Giặc tầu ô, Gió tử thần… Một số truyện trong đó kéo dài mấy năm liền cho đến khi kết thúc, sau có in thành sách, số còn lại vẫn ở dạng “đăng báo trước 1975”.
Bên cạnh những truyện võ hiệp Việt Nam đó, từ đầu những năm 60 cha tôi cũng viết nhiều truyện dị thường, truyện liêu trai đường rừng, hay gọi nôm na là “truyện ma” Ma Cà Rồng, Quỷ Nhập Tràng… là những feuilleton loại này viết vào thời điểm đó. Ngoài ra còn một số truyện ngắn thường đăng vào những số báo Xuân.
Năm 1972 cha tôi có cho xuất bản mấy tập truyện ngắn khổ handbook là Biên Giới Quỷ, Người đẹp tha ma treo… riêng thể loại trào phúng, năm1974 có xuất bảntậptruyện ngắn Bát Ba Toong.
Cũng trong năm đó, ở ngưỡng tuổi 60 ông khởi sự viết bộ truyện – khảo về các nhân vật, tập tục, giai thoại độc đáo ở nhiều địa phương miền Bắc, nhiều lĩnh vực nghệ thuật dân gian. Cha tôi đặt tựa là “Mây trắng còn bay”, dự định sẽ viết nhiều tập và đã hoàn thành tập đầu tiên gồm 8 truyện ngắn đặcsắc. Nhưng tình trạng sức khoẻ những năm sau đó đã không cho phép ông “rút ruột con tằm trả nợ tơ” nữa. Tập một bộ truyện – khảo này trở thành “đứa conút” trong văn nghiệp của cha tôi !
Cha tôi qua đời ngày 8/11/1981 tại nhà vì bệnh già (nhằm ngày 12/10 năm Tân Dậu). Tính đến nay (2011) đã tròn 30 năm.
Nhân ngày giỗ cha tôi sắp đến, kẻ làm con không khỏi chạnh niềm riêng khi tưởng nhớ bậc sinh thành – một tài năng và một nhân cách xứng đáng với sự tôn trọng của đọc giả cũng như an hem trong giới cầm bút. Bèn viết lại những dòng này, như một nén tâm hương tưởng niệm.

“Ngước trông tấm ảnh giữa bàn thờ
Cứ tưởng như là một giấc mơ
Người vẫn nhìn đời đôi mắt sáng
Vẫn còn sang sảng giọng ngâmthơ…”

Sài Gòn, ngày 5 tháng 10 năm Tân Mão
Hoàng Linh (Trưởng nam)

Chia sẻ