Xe tăng MBT Chanlenger II

63

Tính từ thời điểm ra đời (1994) tới nay, mới chỉ có 3 trường hợp MBT Chanlenger II được ghi nhận bị thiệt hại, trong đó có một trường hợp bị bắn nhầm.

Hiện chỉ có trong trang bị của quân đội Anh và Oman, nhưng MBT Chanlenger II đã nổi tiếng thế giới về khả năng sống sót nhờ lớp giáp Chobham thế hệ 2 Dorchester. Tính từ thời điểm ra đời (1994) tới nay, mới chỉ có 3 trường hợp MBT Chanlenger II được ghi nhận bị thiệt hại, trong đó có một trường hợp bị bắn nhầm. Gần đây nhất trong cuộc chiến tại Iraq năm 2003, đã ghi nhận việc Chanlenger II bị bắn bởi súng chống tăng RPG-29, trúng bộc phá tự tạo (IED) nhưng vẫn sống sót với kíp lái bị thương nhẹ.

Khi tác chiến trong môi trường “bất đối xứng”, Chanllenger-2 mang theo giáp bổ sung tăng cường khả năng sống sót trước các loại vũ khí chống tăng các nhân.

Được công BAE Systems Land and Armaments phát triển theo đơn đặt hàng của quân đội Anh từ năm 1989, tới năm 1998, Chanlenger II chính thức được tiếp nhận vào biên chế quân đội Anh. Chanlenger II là sự tổng hòa của các yếu tố truyền thống và hiện đại trong thiết kế thông qua sự kết hợp giữa lớp vỏ giáp dày, pháo nòng xoắn với trang thiết bị điện tử chuẩn kỹ thuật số.

Ổn định, vững chắc và to lớn – đó là ấn tượng về Chanllenger-2.
Dòng xe tăng hiện đại duy nhất trên thế giới còn sử dụng nòng pháo có khương tuyến.

Điểm nhấn chính của MBT Chanlenger II chính là lớp giáp đạn đạo Dorchester. Cơ cấu giáp này hiện được nhiều nước trên thế giới mua lại bản quyền hoặc vay mượn áp dụng trên các dòng MBT nội địa. Về bản chất giáp Dorchester hay Chobham bao gồm các lớp thép, gốm chịu nhiệt và các lớp hợp kim ghép lại với nhau. Giáp Chobham có khả năng vô hiệu hóa các loại đạn lõm, tên lửa chống tăng bằng kết cấu “tổ ong” làm luồng xuyên bị mất năng lượng và bị triệt tiêu. Đối với các loai đạn xuyên dưới cỡ, lợi dụng tính vô định hình của gốm và sự phân kỳ giữa các lớp vật liệu trong kết cấu giáp Chobham khiến thanh xuyên bị đổi hướng và gẫy mất khả năng xuyên phá động năng. Tuy nhiên, thông tin cụ thể về khả năng bảo vệ của lớp giáp này không được phía Anh công bố, nhưng căn cứ vào thực tế chiến đấu của Chanlenger II, giáp Dorchester có tính năng ưu việt hơn giáp thép truyền thống và có thể là cả ERA. Nhược điểm của loại giáp này là trọng lượng toàn xe lớn – Chanlenger II có tổng trọng lượng gần 70 tấn.

Ngoài giáp Dorchester, kíp lái của MBT Chanlenger II cũng được bảo vệ nhờ hệ thống cách ly khỏi các tác nhân sinh-hóa-hạt nhân. Để vô hiệu hóa khả năng ngắm bắn quang học, đo xa la-de của đối phương trong tấn công hoặc phòng ngự, Chanlenger II có 10 ống phóng lựu khói L8. Ngoài ra, xe tăng của Anh cũng có khả năng tạo màn khói ngụy trang nhờ việc tăng khả năng phát khói của động cơ (tương tự như trên MBT Abrams).

Pháo chính của MBT Chanlenger II cũng giống như tinh thần “bảo thủ” của Anh. Trong khi hầu hết các dòng MBT hiện đại đều sử dụng kiểu nòng trơn phù hợp cho việc sử dụng đạn xuyên dưới cỡ có cánh và khả năng bắn tên lửa qua nòng pháo, thì Chanlenger II vẫn trung thành với pháo nòng xoắn được gia cường 120mm L30A1 với 52 cơ số đạn. Ngoài các loại đạn tiêu chuẩn thông thường, pháo L30A1 còn được trang bị đạn phá HESH có tầm bắn đạt tới 8km. Từ năm 2004, Anh đã phát triển pháo 120mm nòng trơn dựa trên cơ sở pháo L55 trên MBT Leopard 2A6 để thay thế pháo L30 trên Chanlenger II.

Cùng với pháo chính trang bị hỗ trợ diệt bộ binh và phương tiện bay thấp của Chanlenger II là súng máy nòng xoay đồng trục L94A1 7,62mm và súng máy L37A2 trên nóc tháp pháo với tổng cộng khoảng 4.200 viên đạn.

Ngay trong quá trình phát triển, các nhà thiết kế Anh đã cân nhắc việc trang bị hệ thống nạp đạn tự động trên Chanlenger II để giảm nhân sự tổ lái. Tuy nhiên, do sự nguy hiểm khi xe tăng trúng đạn và hỏng hóc trong chiến đấu, ý định này đã bị loại bỏ và Chanlenger duy trì kíp lái 4 người. Hệ thống ổn định tháp pháo cho phép Chanlenger 2 khả năng vừa di chuyển, vừa bắn.

Đảm bảo khả năng dẫn bắn và quan sát của Chanlenger II là hệ thống máy tính đạn đạo chuẩn kỹ thuật số MIL STD1553B 32 bit và thiết bị quản lý chiến trường. Trưởng xe sử dụng hệ thống quan sát được tự ổn định quán tính SAGEM VS 580-10 cho phép bao quát 360 độ xung quanh xe với góc nhìn +/- 35 độ. Trong khi đó, xạ thủ được trang bị kính ngắm TOGS II tích hợp khả năng hỗ trợ nhìn đêm cho phép quan sát từ khoảng cách 200m tới 10km.

Cung cấp động lực cho chiếc xe tăng Anh nặng tới gần 70 tấn này là động cơ diesel Perkins 12 xi lanh cung cấp 1.200 mã lực. Điều này đảm bảo cho Chanlenger II khả năng cơ động với tốc độ 60 km/giờ trên đường, 40 km/giờ ở điều kiện dã chiến và dự trữ hành trình đạt 450km.

Tại sao xe tăng hiện đại lại sử dụng pháo nòng trơn:

Về nguyên tắc, nòng pháo có khương tuyến giúp viên đạn có được mô-men xoay giúp ổn định đạn đạo khi khai hỏa. Tuy nhiên, trên các dòng xe tăng hiện đại, việc áp dụng sâu các công nghệ hỗ trợ dẫn bắn như: Cảm biến đo gió, độ ẩm; thiết bị đo xa la-de và máy tính đạn đạo, đã hỗ trợ rất nhiều cho xạ thủ trong quá trình tác xạ. Đặc biệt, sự phát triển công nghệ đạn pháo tăng đã ảnh hưởng rất nhiều tới việc thay thế hoàn toàn nòng pháo tăng có khương tuyến sang nòng trơn.

Việc sử dụng pháo tăng nòng trơn có ưu thế về tuổi thọ (số lượt bắn cao hơn), dễ chế tạo và phù hợp cùng với các loại đạn pháo tăng hiện đại điều khiển bằng cánh lái tự thân (đạn dưới cỡ, tên lửa chống tăng bắn qua pháo chính).

Hiện tại, hầu hết các dòng xe tăng hiện đại trên thế giới hiện đều dùng pháo chính nòng trơn (cỡ 120mm chuẩn NATO và 125mm theo chuẩn Nga, Trung Quốc), trừ Anh.

TUẤN SƠN (tổng hợp)

Theo Quân đội nhân dân